Định nghĩa
Biểu đồ chuyển dạ là một bảng ghi lại các diễn biến của một cuộc chuyển dạ theo thời gian bằng các ký hiệu đã được quy định.

Cách ghi một biểu đồ chuyển dạ
Để ghi một biểu đồ chuyển dạ, cần thống nhất các ký hiệu. Phần lớn các ký hiệu này đã được quy định ở lề trái của biểu đồ chuyển dạ.
Biểu đồ chuyển dạ được lập khi có chuyển dạ thật: tần số cơn co ³ 2/10 phút và thời gian của mỗi cơn co ³ 20 giây.
Nếu thai phụ ở pha tiềm tàng, các số liệu được ghi ở ô, cột đầu của biểu đồ chuyển dạ
Nếu thai phụ ở pha tích cực thì các số liệu được ghi ở ô, cột dọc ứng với độ mở lúc lập biểu đồ chuyển dạ trên đường báo động.

Ghi giờ: điều chỉnh theo nguyên tắc làm tròn số giờ thực tế khi sản phụ vào cơ sở y tế.
Mạch mẹ, nhịp tim thai được ghi bằng ký hiệu là dấu “”.
Độ mở cổ tử cung được ghi bằng ký hiệu (x) ở các dòng ngang có số tương ứng.
Huyết áp được ghi bằng ký hiệu mũi tên 2 đầu, đầu trên biểu thị số huyết áp tối đa; đầu dưới biểu thị số huyết áp tối thiểu.
Tiến triển của ngôi thai (độ xuống của đầu) được ký hiệu bằng hình tròn “O”với quy định:

+ Cao: ghi ở dòng ngang số 5
+ Chúc: ghi ở dòng ngang số 4
+ Chặt: ghi ở dòng ngang số 3
+ Lọt cao: ghi ở dòng ngang số 2
+ Lọt vừa (hay trung bình): ghi ở dòng ngang số 1
+ Lọt thấp: ghi ở dòng ngang số 0

Chồng khớp sọ: Có chồng khớp là có bất tương xứng
+ “O” khi hai đường khớp giữa 2 xương đỉnh của thai hơi cách nhau, đường khớp dễ nhận thấy.
+ “+” khi hai xương đỉnh giáp sát vào nhau, phát hiện khó hơn.
+ “++” khi hai xương đỉnh chờm lên nhau rõ rệt.

Tình trạng vỡ ối:
+ Ký hiệu “C” chi biết ối còn hoặc chưa vỡ. Nếu còn: D: dẹt; P: phồng
+ Ký hiệu “T” cho biết đầu ối đã vỡ (hoặc bấm) với nước ối trong.
+ Ký hiệu “M” nếu đầu ối đã vỡ với nước ối có màu.
Ối vỡ tự nhiên hoặc bấm ối vào lúc nào thì đánh dấu một mũi tên ở ngay thời điểm đó cùng với các ký hiệu trên.
(Theo chương trình sức khoẻ bà mẹ và làm mẹ an toàn, Ban sức khoẻ gia đình-TCYTTG)

Nhiệt độ: Ghi thân nhiệt của bà mẹ (4h/lần) bằng số đo qua nhiệt kế lấy ở trong miệng.
Protêin nước tiểu sau khi thử có kết quả được ghi lại như sau:
+ (-) Nước tiểu không có Protêin
+ (+), (++) hay (+++) khi nước tiểu có prôtêin với mức độ ít, vừa phải hay nhiều tuỳ theo độ đục trắng của nước tiểu thử sau khi đốt nóng.

Ghi cơn co tử cung
Cơn co tử cung khi đo trên lâm sàng được tính ra tần số (số cơn co trong 10 phút). Ví dụ 5 phút mới có 1 cơn thì tần số là 2; cách 2 phút rưỡi có 1 cơn thì tần số là 4.
Tuỳ theo tần số cơn co tử cung mà đánh dấu vào số ô thích hợp với ký hiệu đã được hướng dẫn trên biểu đồ như sau:

Tất cả các số đo theo dõi được ở giờ nào sẽ được ghi lại trên đường dọc của biểu đồ chuyển dạ ở bên trái của ô giờ đó.

Do đó, các số liệu thu được ngay khi khám vào sẽ được ghi ở đường dọc đầu tiên trên biểu đồ chuyển dạ.
Nếu ngay khi vào, thăm khám thấy cổ tử cung đã mở được từ 3cm trở lên thì chuyển dạ của sản phụ đã chuyển sang pha tích cực từ trước đó rồi vì thế các số liệu thu được khi khám nhận không ghi ở dường dọc đầu tiên của biểu đồ chuyển dạ nữa mà phải ghi ở đường dọc nằm trong pha tích cực phù hợp với độ mở của cổ tử cung lúc đó.

Trường hợp khi vào chuyển dạ đang ở pha tiềm tàng nhưng sau 4h thăm lại đã chuyển sang pha tích cực thì sau khi ghi các ký hiệu của giờ đó ở pha tiêm tàng phải làm động tác “chuyển” các số đo đó sang pha tích cực ở ô và dòng thích hợp (xem các hình minh hoạ ví dụ ở dưới).

Phân tích đánh giá một biểu đồ chuyển dạ

Diễn biến bình thường của một cuộc chuyển dạ (tiến triển của cổ tử cung, của ngôi thai và của cơn co tử cung) coựthể biểu hiện như sau:

Theo thời gian, đường biểu diễn độ mở của cổ tử cung sẽ là một đường đi dần lên cao, trái lại đường biểu diễn sự tiến triển của ngôi thai là một đường đi xuống; trong đó đường biểu diễn độ mở cổ tử cung luôn luôn nằm về phía bên trái của “đường báo động”.
Về cơn co tử cung, các cơn co sẽ tăng dần lên về tần số cũng như về cường độ (biểu hiện bằng thời gian co của mỗi cơn mỗi lúc một dài thêm trong phạm vi cho phép).
Hình vẽ 2 là một biểu đồ chuyển dạ có đường biểu diễn không vượt quá được 3 cm trong suốt 8h của pha tiềm tàng mặc dầu cơn co tử cung không phải quá thưa và yếu báo hiệu một cuộc chuyển dạ kéo dài cần chuyển tuyến.



Hình 2: Chuyển dạ kéo dài

Hình vẽ 3: là một biểu đồ chuyển dạ có đường biểu diễn độ mở cổ tử cung đi lệch sang bên phải của “đường báo động”. Như vậy trong pha tích cực của mỗi giờ cổ tử cung mở không được 1 cm báo hiệu cuộc chuyển dạ có thể kéo dài cần can thiệp kịp thời..

Hình 3: Chuyển dạ kéo dài và ngôi không tiến triển

Hình vẽ 4 là một biểu đồ chuyển dạ có đường biểu diễn mở cổ tử cung bình thường (đi bên trái của đường báo động) nhưng biểu diễn sự tiến triển của ngôi lại bất thường (ngôi thai không tiến triển) đồng thời về cơn co tử cung lại thấy tăng cả về tần số và cường đồ, biểu hiện một tình trạng bất tương xứng giữa ngôi thai và khung xương chậu bà mẹ, có thể dẫn đến doạ vỡ tử cung nếu không được xử trí kịp thời.


Hình 4: Biểu đồ chuyển dạ bất thường về cơn co tử cung và mức độ tiến triển của ngôi

Phác đồ điều trị sản khoa khoa phòng sanh Bv Từ Dũ