Sau đẻ nếu lượng máu mất đi trên 300ml hoặc đã gây hậu quả choáng do mất máu thì gọi là băng huyết và trở thành tai biến rất nguy hiểm.

Nguyên nhân của chảy máu sau sinh:

– Đờ tử cung
– Chấn thương đường sinh dục (Đặc biệt Vỡ tử cung)
– Rối loạn bong rau, sổ rau
– Rối loạn đông máu

Triệu chứng
  1. Triệu chứng lâm sàng
– Chảy máu ngay sau khi sổ rau.
– Tử cung giãn to, mềm, co hồi kém hoặc không co hồi, không có khối an toàn mặc dù rau đã sổ, trong tử cung có toàn máu cục và máu loãng.
– Nếu ra máu nhiều sản phụ xanh nhợt, mạch nhanh, huyết áp hạ, khát nước, chân tay lạnh, vã mồ hôi
  1. Thái độ xử trí: phải xử trí khẩn trương, phải tiến hành song song cầm máu và hồi sức:
– Dùng mọi biện pháp cơ học để cầm máu: xoa bóp tử cung, chẹn động mạch chủ bụng, chẹn tử cung qua thành bụng.
– Thông tiểu để bàng quang rỗng. Giảm đau bằng Dolargan 50mg tiêm TM.
– Soát tử cung lấy hết rau sót và máu cục rồi tiêm bắp thuốc Oxytocin 5- 10 đơn vị, có thể tiêm bắp nhắc lại 2 lần. Nếu tử cung không co, tiêm Ergometrin 0,2mg một ống TB, Misoprostol 200mcg x 5 viên đặt hậu môn.
– Hồi sức truyền máu và cho kháng sinh toàn thân.
– Nếu sau khi xoa bóp liên tục tử cung, đã tiêm thuốc co bóp tử cung nhưng máu vẫn tiếp tục chảy và mỗi khi ngừng xoa bóp tử cung lại bị nhão ra, thì phải nghĩ đến đờ tử cung không hồi phục, ngay lập tức phải tiến hành mổ cắt tử cung.

Chấn thương trong sinh đẻ

Rách tầng sinh môn, rách âm hộ, âm đạo, máu tụ đường sinh dục, rách cổ tử cung, vỡ tử cung. Nếu không xử trí kịp thời làm mất máu nặng gây đờ tử cung và rối loạn đông máu.

1. Nguyên nhân

– Do đỡ đẻ không đúng kỹ thuật.
– Do đẻ nhanh
– Do thai to
– Do cổ tử cung chưa mở hết mà sản phụ đã rặn
– Do can thiệp thủ thuật không đúng chỉ định và không đủ điều kiện

2. Triệu chứng và chẩn đoán:

Chảy máu xuất hiện ngay sau khi thai sổ, lượng máu mất nhiều hay ít tuỳ tổn thương nặng hay nhẹ.
– Máu đỏ tươi chảy rỉ rã hay thành dòng, liên tục.
– Tử cung co tốt nhưng máu vẫn chảy ra ngoài âm hộ, máu đỏ tươi
– Chẩn đoán rách ở tầng sinh môn và âm hộ dễ dàng qua quan sát.
– Chẩn đoán rách cổ TC và cùng đồ bằng cách cho 2 ngón tay theo bề ngoài cổ tử cung, sát tới cùng đồ, nếu có chỗ khuyết là rách cổ tử cung. Nhưng muốn chính xác là phải dùng van và 2 kẹp hình tim kéo từng đoạn cổ tử cung để quan sát tìm chỗ rách.

3. Xử trí:

Phải bóc rau nhân tạo và kiểm soát tử cung ngay sau khi sổ thai để chẩn đoán.
– Xử trí theo nguyên tắc tiến hành song song cầm máu và hồi sức.
– Khâu lại tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo, cổ tử cung.
– Cho kháng sinh, hồi sức chống choáng.

Rối loạn bong rau, sót rau

1. Sót rau, sót màng:

Chảy máu là dấu hiệu sớm của sót rau do các xoang tĩnh mạch ở nơi rau bám không đóng lại được.

1.1. Nguyên nhân:

– Do tiền sử sẩy thai, nạo hút thai nhiều lần
– Do đẻ nhiều lần và có lần đã bị sót rau, viêm niêm mạc tử cung.
– Sau đẻ non, đẻ thai lưu, sẹo mổ cũ.

1.2. Triệu chứng lâm sàng

– Chảy máu: thường xuất hiện ngay sau khi sổ rau.
– Ra máu rỉ rả, tử cung có thể co hồi kém, máu đọng lại ở trong buồng tử cung làm tử cung căng to không co lại được, gây đờ tử cung thứ phát.
– Lượng máu ra có thể ít, có thể nhiều, máu đỏ tươi có lẫn máu cục.
– Có thể phát hiện sớm sót rau sau đẻ bằng cách kiểm tra bánh rau thấy thiếu. Chú ý đến những bánh rau phụ khi thấy các mạch máu trên màng rau.
– Nếu phát hiện muộn, không xử lý kịp thời, mất máu nhiều có dấu hiệu choáng : sản phụ khát nước, chân tay lạnh, vã mồ hôi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ.

1.3. Xử trí

– Phải cho thuốc giảm đau (Morphin 0,01g x Một ống) và tiến hành soát tử cung ngay. Khi kiểm soát tử cung phải lấy hết rau và màng rau sót, toàn bộ máu cục và máu loãng trong buồng tử cung.
– Tiêm bắp 5- 10 đv oxytocin hoặc/và ergometrin 0, 2mg vào bắp thịt.
– Cho kháng sinh toàn thân: Amoxilin 250mg x 4viên/ngày x 7 ngày.
– Theo dõi tiếp tục mạch, huyết áp, chảy máu và co hồi tử cung.
– Nếu có choáng phải hồi sức truyền dịch, truyền máu nếu thiếu máu cấp.
– Tiếp tục theo dõi mạch, huyết áp, chảy máu và co hồi tử cung.
– Nếu còn ra máu cho thêm thuốc oxytocin tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch.
– Có thể khi cần, phải kiểm soát tử cung lại.

2. Rau không bong

– Đây là một bệnh hiếm gặp của rau (tỷ lệ 1/ 2000). ở người đẻ nhiều lần, nạo thai nhiều lần, tiền sử có viêm niêm mạc tử cung khi đẻ các gai rau bám trực tiếp vào cơ tử cung không có lớp xốp của ngoại sản mạc, có khi gai rau xuyên sâu vào chiều dày lớp cơ tử cung.
Người ta có thể phân biệt :
+ Rau cài răng lược toàn phần: Toàn bộ bánh rau bám vào lớp cơ do đó không bong ra được và không chảy máu.
+ Rau cài răng lược bán phần: Chỉ một phần bánh rau bám sâu vào cơ tử cung do đó bánh rau có thể bong một phần, gây chảy máu. Lượng máu chảy ra nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tình trạng co rút của lớp cơ tử cung và mức độ bong rau.

2.1.Triệu chứng lâm sàng

– Nếu là rau cài răng lược toàn phần: ít gặp, không chảy máu.
– Nếu là rau cài răng lược bán phần thì sau khi thai đã sổ 30 phút rau không bong được, nhưng có chảy máu nhiều hay ít tuỳ theo diện rau bong rộng hay hẹp.
– Chỉ có thể chẩn đoán chắc chắn dựa vào thử bóc rau không kết quả hay chỉ bóc được một phần và máu chảy nhiều.
Cần chú ý phân biệt với:
+ Rau bám chặt: Trường hợp rau không bong do lớp xốp kém phát triển, nhưng có thể bóc toàn bộ bánh rau bằng tay được.
+ Rau mắc kẹt và rau cầm tù: mắc kẹt ở một sừng tử cung do một vòng thắt của cơ đan chéo. Đặc biệt bánh rau dễ bị mắc kẹt trong trường hợp tử cung hai sừng. Loại này chỉ cần cho tay vào buồng tử cung là có thể lấy được rau ra vì bánh rau đã bong hoàn toàn.

2.2. Xử trí:

– Nếu rau chưa bong và chảy máu, tiến hành bóc rau và soát tử cung, cho oxytocin 10 đơn vị tiêm trực tiếp vào cơ tử cung hoặc tiêm bắp, xoa bóp tử cung, hồi sức chống choáng, cho kháng sinh.
– Nếu không bóc được hoặc vẫn chảy máu thì phải PHOỉNG MOÅ.
– Nếu rau cài răng lược bán phần chảy máu hoặc rau cài răng lược toàn phần phải cắt tử cung ngay.
– Nếu chảy máu nhiều cần phải hồi sức truyền máu trong và sau mổ. Cho kháng sinh.

Rối loạn đông máu

Có thể tiên phát do các bệnh về máu nhưng thường là do chảy máu nhiều mất sinh sợi huyết