Chẩn đoán tiền sản giật nặng



Lâm sàng

- Huyết áp tối đa ( 160 mmHg và tối thiểu 110mmHg )
- Rối loạn thị giác và não.
- Đau đầu mà không đáp ứng với các thuốc thông thường.
- Đau vùng thượng vị hoặc phần tư trên của hạ sườn phải.
- Phù phổi hoặc xanh tím.
- Thiểu niệu ( 400ml/24 giờ).

Cận lâm sàng

- Protein niệu ( 3g/l/trong 24 giờ hoặc 3+ trở lên).
- Tiểu cầu giảm dưới 150. 000/mm3
- Bất thường các men gan ( tăng SGOT, SGPT).


Chẩn đoán tiền sản giật


Chẩn đoán xác định:
Dựa vào ba triệu chứng chính là cao huyết áp, phù và protein niệu.

Chẩn đoán phân biệt

- Cao huyết áp bản chất: tiền sử đã có cao huyết áp trước, cao huyết áp xuất hiện trước tuần thứ 20 của thai kỳ.
- Các bệnh lý về thận: viêm thận cấp, viêm thận mãn, viêm mủ bể thận.
- Các phù do tim, phù do suy dinh dưỡng.

Biến chứng của tiền sản giật nặng

Biến chứng mẹ

- Biến chứng ở hệ thần kinh trung ương: Sản giật: (Xem sản giật), xuất huyết não
màng não.
- Biến chứng ở mắt: Mù mắt, do ảnh hưởng thứ phát của phù võng mạc, phù não, co thắt động mạch. Đây cũng là biến chứng hiếm gặp.
- Biến chứng ở thận: Hoại tử ống thận cấp, suy thận cấp.
- Biến chứng ở gan: Chảy máu dưới bao gan, có thể vỡ gan xuất huyết trong ổ bụng.
- Biến chứng ở tim: suy tim cấp.
- Biến chứng ở phổi: có thể xãy ra phù phổi cấp ( gặp trong tiền sản giật nặng hoặc sản giật).
- Biến chứng rối loạn đông máu: Giảm tiểu cầu, đông máu rải rác trong lòng mạch.

Biến chứng thai

- Thai chậm phát triển trong tử cung (56%)
- Đẻ non (40%), do tiền sản giật nặng hoặc sản giật phải cho đẻ sớm.
- Tử vong chu sinh: Tỷ lệ tử vong chu sinh tăng cao nếu có biến chứng nhau bong non, đẻ non. Tử vong chu sinh khoảng 10%.
Ngoài ra, tiền sản giật- sản giật có thể trở nặng và nhanh khi có hội chứng HELLP xuất hiện. Chẩn đoán hội chứng này gồm: tan huyết (Hemolysis), tăng các men gan ( Elevated liver enzyme) và giảm tiểu cầu ( Low plateletes).
Xử trí


Dự phòng:
Vì nguyên nhân chưa rõ nên dự phòng bệnh lý này rất khó


- Hạn chế calorie, dịch và muối không ngăn ngừa được TSG và có thể có hại cho thai.
- Tuyên truyền vận động cho thai phụ thấy được tầm quan trọng của chăm sóc tiền sản để thai phụ tự giác thăm thai đúng hẹn.
- Chủ yếu là phát hiện sớm và điều trị kịp thời những sản phụ có nguy cơ cao để ngăn ngừa xãy ra sản giật.
Tóm lại, đăng ký quản lý thai nghén là khâu cơ bản nhất trong dự phòng tiền sản giật- sản giật.


Điều trị

Mục tiêu điều trị
- Đối với mẹ:
+ Ngăn cản sự tiến triển của bệnh
+ Tránh các biến chứng có thể xẩîy ra
+ Hy vọng cải thiện tình trạng bệnh và làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ
- Đối với con:


+ Cố gắng đảm bảo sự phát triển sự phát triển bình thường của thai trong tử cung

+ Hạn chế những nguy cơ có thể xẩy ra cho thai.
Khi điều trị, người thầy thuốc phải nắm vững phương châm: Bảo vệ mẹ là chính, có chiếu cố đến con. Thuốc điều trị triệu chứng cho mẹ đồng thời có tác động đến thai nhi nên cần cân nhắc kỹ trước khi dùng thuốc điều trị cho mẹ.


Điều trị tiền sản giật:
bao gồm nghỉ ngơi, điều trị nội khoa, điều trị sản và ngoại
khoa.


- Tiền sản giật nhẹ:


có thể điều trị ngoại trú hoặc nhập viện ( nếu không có điều kiện theo dõi).
+ Nghỉ ngơi và nằm nghiêng trái.
+ Có thể cho an thần uống ( Diazepam )
+ Theo dõi hằng tuần, nếu có dấu hiệu nặng lên phải nhập viện và điều trị tích cực.
+ Nếu thai đã đủ tháng nên cho đẻ.


- Tiền sản giật nặng


Phải nhập viện và theo dõi tại tuyến tỉnh. Tất cả các trường hợp tiền sản giật nặng phải được điều trị một cách tích cưcû. Việc điều trị bao gồm chế độ nghỉ ngơituyệt đối, dùng thuốc hạ huyết áp, an thần, Mag cnesium Sulfat , chấm dứt thai nghén đúng lúc.
Ngoài ra cần phải đo huyết áp ngày 4 lần, theo dõi cân nặng và protein niệu hàng ngày, xét nghiệm đếm tiểu cầu, Hct, đánh giá các chức năng gan, thận, rối loạn đông chảy máu, hội chứng HELLP, siêu âm và đo điện tim thai( CTG) để đánh giá tình trạng thai.
Cụ thể, chế độ điều trị như sau:


- Chế độ nghỉ ngơi và nằm nghiêng trái ( tử cung khỏi đè lên tĩnh mạch chi dưới
gây ứ máu chi dưới)


- Chế độ nội khoa:


+Thuốc an thần: Diazepam tiêm hoặc uống.
+Thuốc hạ huyết áp, khi có huyết áp cao ( (160/110mmHg):
Thuốc hạ huyết áp được chọn lựa đầu tiên dùng trong thai nghén là Hydralazine,
Cơ chế: dãn cơ trơn trực tiếp, bằng cách này nó làm dãn các tiểu động mạch, tăng lưu lượng máu đến tim và thận và người ta cho rằng nó còn làm tăng luồng máu của rau. Tác dụng chính là làm dãn các mạch máu ngoại vi.
Thời gian bán huỷ : 1 giờ, thuốc được thải trừ qua gan.

Liều dùng: 5- 10 mg bơm tĩnh mạch chậm, có thể lập lại liều 5mg, 10-20 phút nếu cần. Tổng liều là 30mg. Có thể truyền tĩnh mạch chậm 10mg/Dextrose 5%.
Một số thuốc hạ huyết áp có thể dùng thay thế như:
Labetalol (thuốc hạ huyết áp chẹn ( và (): 10-20mg tiêm tĩnh mạch chậm. Nifedipin ( ức chế dòng calci): Biệt dược là Adalat 10mg, ngậm dưới lưỡi hoặc giọt 3 giọt dưới lưỡi. Thuốc này dùng tốt trong trường hợp cao huyết áp đột ngột. Lưu ý nếu huyết áp xuống thấp dễ suy thai.

Nếu huyết áp tối thiểu của người mẹ cao trên 110mmHg cần phải cho thêm Magnesium Sulfat để đề phòng co giật và có thể làm hạ huyết áp nhẹ.
+Thuốc lợi tiểu: không nên dùng trừ khi có đe doạ phù phổi.


- Chế độ sản khoa và ngoại khoa:

Nếu tiền sản giật không đáp ứng với với điều trị và nhất là xãy ra sản giật thì phải nghỉ đến chấm dứt thai kỳ cho dù tuổi thai là bao nhiêu. Trước khi chủ động chấm dứt thai kỳ, nên cố gắng ổn định tình trạng bệnh nhân trong vòng 24- 48 giờ giống như trong sản giật. Nên giúp sinh khi có đủ điều kiện hoặc phải mổ lấy thai khi có chỉ định sản khoa hoặc cần chấm dứt nhanh.

Về phương pháp vô cảm, 2 phương pháp được lựa chọn là gây mê nội khí quản hoặc tê ngoài màng cứng (miễn là không có rối loạn đông chảy máu), còn phương pháp tê tuỷ sống thì chống chỉ định.